mr viet blog

Làm thế nào Việt Nam trở thành một trong những nước sản xuất cà phê lớn nhất

Có một thực tế là cà phê vô cùng phổ biến ở Việt Nam. Sản lượng chiếm hơn 1,7 triệu tấn hàng năm, khiến nó trở thành một trong những nhà sản xuất cà phê lớn nhất trên thế giới. Hơn nữa, cà phê Việt Nam là một phần quan trọng trong thu nhập quốc dân và được xuất khẩu sang nhiều nước. Như vậy, có thể thấy cà phê Việt Nam hầu như ở khắp mọi nơi. Vậy làm thế nào mà đất nước này lại trở thành một nhà cung cấp cà phê lớn và quan trọng như vậy?
Ban đầu, cà phê được thực dân Pháp đưa vào Việt Nam

IVào nửa sau của thế kỷ 19, Việt Nam trở thành một phần của Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm các lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia ngày nay. Năm 1857, một linh mục Công giáo người Pháp đã mang một cây cà phê Arabica đến đất nước này để thành lập một công ty kinh doanh cà phê nhỏ. Sau đó loại cây cà phê này được trồng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam như Hà Nam và Phủ Lý. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, nó đã được trồng dọc cả nước. Đến những năm 1890, người Pháp đã tạo ra ngành cà phê phát triển và mở rộng ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng An Nam (miền Trung Việt Nam).

Cho đến cuối những năm 1900, chỉ có Arabica được trồng ở Việt Nam. Người ta cho rằng giống cà phê này không mang lại doanh thu cao nên thực dân Pháp quyết định mang một loại cà phê khác từ Congo. Năm 1908, họ đưa ra 2 giống cà phê mới (cà phê vối và cà phê mít - liberica) và bắt đầu trồng ở Tây Nguyên Việt Nam. Ở đó, cà phê phát triển mạnh mẽ và diện tích trồng cà phê được mở rộng thực sự nhanh chóng. Tây Nguyên trở thành khu vực lớn nhất và phổ biến nhất để trồng các loại cà phê như robusta. Địa danh nổi tiếng nhất trong và ngoài nước là Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên. Đến năm 1950, Việt Nam trở thành nước sản xuất cà phê hàng đầu ở Châu Á.


Chiến tranh Việt Nam và sản xuất chậm lại

Năm 1955, chiến tranh Việt Nam bắt đầu. Kết quả là nhiều ngành, xí nghiệp, kể cả những xí nghiệp chuyên sản xuất cà phê đã phải trải qua những thời kỳ khó khăn: sản xuất bị đình trệ, thậm chí ngừng hoạt động, hàng loạt công ty phá sản, phải ngừng sản xuất. Trong điều kiện đó ngành cà phê bị thiệt hại rất nhiều. Chiến tranh kết thúc vào năm 1975, nhưng phải hơn 10 năm sau chính phủ mới bắt đầu hành động. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện một loạt các cải cách nhằm khôi phục ngành cà phê và nền kinh tế nói chung. Nhờ sự hỗ trợ của các doanh nghiệp trong nước và chính sách ngoại thương chu đáo, đất nước đã mở cửa giao thương với quốc tế. Và một trong những sản phẩm quan trọng nhất mà nó có thể cung cấp là cà phê khi sản lượng của nó tăng 20% ​​-30% mỗi năm trong những năm 1990. Đến cuối những năm 1990, Việt Nam đã trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil, chủ yếu tập trung vào hạt Robusta.


Tình hình hiện đại

Việt Nam duy trì vị thế là một trong những nước dẫn đầu ngành cà phê trên thị trường quốc tế. Giai đoạn 2000-2010, sản lượng cà phê tăng từ 900.000 tấn lên 1,13 triệu tấn; đến năm 2020 tăng hơn nửa triệu và đạt gần 1,7 triệu tấn. Ngày nay, 20% tổng sản lượng cà phê của thế giới nói chung và 40% hạt Robusta của thế giới đến từ Việt Nam. Hơn 3 triệu công dân Việt Nam phụ thuộc vào ngành cà phê nông nghiệp và trực tiếp tham gia sản xuất cà phê - chưa kể nhân viên của hàng chục nghìn cửa hàng cà phê trên toàn quốc.

Cà phê thực sự có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với người Việt Nam và văn hóa của họ, mà còn đối với nền kinh tế quốc gia. Đóng góp rất nhiều cho hạnh phúc của người dân và cả nước.

Chúng tôi đã tạo ra cà phê Mr. Việt được lựa chọn kỹ lưỡng và rang xay chuyên nghiệp để giúp Việt Nam đại diện cho cà phê của mình một cách tốt nhất, đồng thời kết nối nông dân địa phương của đất nước với những người yêu thích cà phê trên toàn thế giới. Thưởng thức các sản phẩm Việt Nam đích thực và cảm nhận sự kết nối với văn hóa và lịch sử Việt Nam!"
14.10.2021

Đọc thêm